Đánh thức sông Sài Gòn


Lịch sử người Việt nhập gia trên đất phương Nam bắt đầu từ một đám cưới vương giả giữa hai hoàng gia.

Cách đây 402 năm, năm 1620, công nữ Ngọc Vạn của chúa Nguyễn kết hôn cùng vua Thủy Chân Lạp. Thuở ấy từ Phú Xuân – kinh đô nhà gái đến Prei Nokor – kinh đô của nhà trai, người Việt gọi là Sài Gòn, chỉ có thể đi bằng đườngbiển. Việt sử xứ đàng Trong của Phan Khoang ghi Chúa Nguyễn đã tổ chức một đoàn đưa dâu trên những con thuyền lớn vào Nam.

Trên hải trình xa xôi đó, đoàn đưa dâu ghé qua Bình Thuận, thủ phủ phần đất Champa cuối cùng – đã quy phục Đàng Trong, để tiếp thêm nước ngọt và lương thực. Đoàn nhận vào những người chèo thuyền, thủy thủ và hoa tiêu người Chăm – vốn gần gũi với sông nước giáp ranh Chân Lạp. 

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 2.

Chính các thuyền viên người Chăm sẽ giúp đoàn thuyền nhận biết luồng lạch từ cửa Kanchoeu (Cần Giờ) theo sông Soài Rạp vào đến vàm Kas Krobei (Bến Nghé). Giờ đây, công nữ Ngọc Vạn và đoàn tùy tùng không chỉ là sứ giả mà còn là đoàn di dân Việt đầu tiên chính thức định cư trên miền đất mới.

Trên đoàn thuyền của cô dâu, ngoài các sứ thần, có nhiều tùy tùng bao gồm người phục vụ từ các phiên dịch, tì nữ, thợ may, thợ thủ công, người nấu bếp cho đến phu khuân vác và khiêng kiệu, thị vệ và binh lính. Một đoàn tùy tùng đông đảo như thế có thể trên dưới cả trăm người hoặc hơn. Để có hàng hóa cho công nữ sử dụng lâu dài và quà tặng cho “sui gia”, đoàn thuyền mang nhiều phẩm vật Thuận Quảng như gạo, nước mắm, đường đen… Và không thể không có tơ lụa, đồ gốm sứ, trầm hương, vàng bạc là những đặc sản nổi tiếng của Đàng Trong.

Đó là kết quả của một cuộc bang giao hòa bình và đàm phán khéo léo. Thuở đó vua Thủy Chân Lạp muốn thông gia với chúa Nguyễn không chỉ để có một người vợ ngoại tộc trâm anh. Một cách thực tế, Thủy Chân Lạp cần Đàng Trong hỗ trợ để đối phó với Xiêm La và Thượng Chân Lạp – những thế lực thường xuyên đe dọa mình. Do vậy, cuộc hôn nhân giữa hai hoàng gia là cách kết nối đồng minh sâu lắng mà nhẹ nhàng.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 3.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 4.

Sự xuất hiện của những cư dân Việt và hàng hóa Việt, cho dù chưa lớn lao, ngay trên kinh đô của Thủy Chân Lạp đã đem cho vương quốc này những nhận thức mới về sức mạnh và lợi ích cụ thể khi bang giao với Đàng Trong. Ba năm sau – 1623, vua Thủy Chân Lạp chấp thuận ủy thác quyền thu thuế giao thương trên đất Prei Nokor cho quân binh chúa Nguyễn. địa chí văn hóa TP.HCm do GS Trần Văn Giàu chủ biên cho biết đồn thu thuế đầu tiên được dựng ngay ngã ba vàm Bến Nghé và rạch Bến Nghé, vào khoảng vị trí Cột Cờ Thủ Ngữ hiện tại. 

Kế tiếp đồn thứ hai đặt ở khu vực Cầu Kho (nay là đường Trần Đình Xu giáp với đại lộ Võ Văn Kiệt). Vị trí Thủ Ngữ – chức danh của quan thu thuế, là nơi dễ dàng kiểm soát tàu thuyền từ biển ra vào, cũng như hàng hóa từ vùng cao Thượng Chân Lạp và Đồng Nai Thượng (Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước) đổ xuống. Còn Cầu Kho là địa điểm lý tưởng cho việc kiểm soát thuyền bè chở gạo và nông sản theo sông rạch đi từ vùng Gò Công, Mỹ Tho qua Chợ Rẫy – Chợ Quán (nay là Chợ Lớn), ra đến vàm Bến Nghé để giao hàng.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 5.

Cả hai vị trí cũng là nơi xuất phát đội quân Việt đi kiểm tra thuế và tìm hiểu “miệt trên, miệt dưới”. Cùng với hai đồn thu thuế, vua Thủy Chân Lạp cho quân binh chúa Nguyễn mở đồn điền ở vùng Mô Xoài (Vũng Tàu – Bà Rịa). Quân binh đi đến đâu, trại gia binh mở đến đó, số lượng người Việt đầu tiên trên đất Sài Gòn và Chân Lạp dần dần gia tăng. Những người Việt di dân không chỉ tinh kiếm cung mà còn thạo nghề sông nước. Họ tập chung sống và làm quen với ngôn ngữ – văn hóa – tín ngưỡng của người Khmer, người Chăm, người Mạ và người Xtiêng bản địa. 

Về sau, trên đất Sài Gòn có thêm nhiều di dân người Hoa do chính chúa Nguyễn cho phép và khuyến khích cùng vào khai khẩn với người Việt. Tất cả cư dân tứ xứ chung tay bươn chải kiếm sống và chiến đấu với cọp beo, cá sấu, thú hoang hùng cứ khắp nơi. Sau 70 năm khai phá ròng rã,căn cứ quân binh và di dân Việt ở Sài Gòn đã lan tỏa rộng ra cả Đồng Nai và tiến đến khu vực Tiền Giang. Vào năm 1698, lãnh thổ ấy được nhập vào Đàng Trong, chuyển thành Phủ Gia Định. Lãnh thổ tân lập có trung tâm là Sài Gòn, được chúa Nguyễn đặt tên chính thức là huyện Tân Bình, có nghĩa là vùng đất mới yên bình.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 6.

Năm 1788, sau cơn binh lửa tàn khốc với Tây Sơn, Sài Gòn được tái thiết với quy mô lớn. Gia Định Kinh ra đời, là kinh đô của phần đất Đàng Trong do Nguyễn Ánh điều hành. Với sự hỗ trợ của một số chuyên viên Pháp, kinh đô mới mẻ này được thiết kế và sắp đặt theo lối châu Âu, phát triển từ mặt sông trở vào. Năm 1802, sau chiến thắng Tây Sơn, vua Gia Long dời kinh đô ra Huế nhưng vẫn duy trì Gia Định là trung tâm giao thương của cả nước và là cửa ngõ thông thương hàng đầu với bên ngoài. Bên cạnh các tàu thuyền Xiêm La, Nhật Bản và Trung Hoa, các thuyền buôn Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Mỹ lần lượt tìm đến “hải khẩu” Gia Định.

Năm 1819, John White – thuyền trưởng Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn – đã nhận ra đường thủy từ cửa biển Cần Giờ vào đến trung tâm Gia Định rất thuận tiện. Hơn thế nữa, ông ghi chép trong hồi ký, từ Sài Gòn có hẳn một hệ thống kinh rạch tỏa ra khắp Đồng bằng sông Cửu Long sang đến Campuchia. Từ đầu thế kỷ 19, hai chữ Sài Gòn bắt đầu xuất hiện các bản đồ hàng hải của phương Tây. Bài phú Gia định phong cảnh vịnh khắc họa hình ảnh Sài Gòn trước khi Pháp vào, đã có nhiều chợ búa nhộn nhịp, hàng phố thương khách góp nhóp đủ loài rừng vật biển. Đặc biệt là cảnh sông nước ghe đen mũi, ghe vàng mũi vào ra coi lòa nước (thuyền từ các tỉnh) và tàu xanh, tàu đỏ mang hàng hóa chất ngất trời (thuyền từ các nước).

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 7.

Thực dân Pháp xâm chiếm Sài Gòn năm 1859 đã sớm khai thác lợi thế sông biển của thành phố. Ngay khi tiếng súng giao tranh chưa chấm dứt, các đô đốc Pháp cho làm mới cầu cảng và kho bãi của bến tàu Khánh Hội, trở thành thương cảng quốc tế mở cửa vào ngày 18-2-1860.

Sách Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu của Trần Hữu Quang kể rằng thương cảng Sài Gòn ngay lập tức cạnh tranh với cảng Hong Kong và Singapore bằng cách không đánh thuế hàng hóa ra vào. Tàu thuyền nước ngoài cập bến Sài Gòn chỉ đóng lệ phí neo tàu tính theo khối lượng và số ngày. Cùng lúc đó Thủy xưởng của nhà Nguyễn ở rạch Thị Nghè được hiện đại hóa thành công xưởng Ba Son – chuyên sửa chữa và đóng tàu cho cả chiến thuyền và thương thuyền. 

Các hãng hàng hải quốc tế, đi cùng là công ty bảo hiểm, ngân hàng, kế đến là văn phòng lãnh sự và thương mại của nhiều nước, nhanh chóng “đổ bộ” Sài Gòn. Họ đặt trụ sở dọc theo thương cảng, bờ sông Bến Nghé, bờ kênh Chợ Vải và bờ kênh Tàu Hũ. Từ cuối những năm 1860, một tuyến liên lạc điện tín từ Sài Gòn đi Pháp và tỏa ra các châu lục khác đã được thiết lập nhờ có đường cáp xuyên biển được xây dựng ở Vũng Tàu.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 8.

Lúa gạo, nông lâm sản, hàng thủ công dồi dào của Nam Kỳ và sau đấy hàng hóa của miền Trung và miền Bắc qua cảng Sài Gòn xuất đi khắp thế giới. Trong khi đó, các con kênh nối Sài Gòn – Chợ Lớn và miền Tây được nạo vét và mở rộng rất sớm. Người Pháp cho làm thêm kênh Vành Đai nối rạch Thị Nghè với Chợ Lớn (1875) và kênh Tẻ – kênh Đôi (1906 – 1912) để tăng năng lực vận chuyển hàng hóa từ miền Tây lên Sài Gòn và ra biển. 

Theo thống kê năm 1937, Thương cảng Sài Gòn đã đón 1.559 lượt thương thuyền ra vào. Ngoài Pháp, số lượng thương thuyền đến thành phố xếp theo thứ tự lần lượt là Anh, Hà Lan, Nhật, Ý, Đan Mạch, Na Uy, Hy Lạp, Đức, Mỹ, Panama, Hungary, Nam Tư và Thụy Điển. Rất hấp dẫn, vào năm 1929, tại vị trí bến Bạch Đằng hiện giờ, đã khai trương tuyến du lịch bằng thủy phi cơ đến Angkor của Campuchia. Sài Gòn chính là cửa ngõ du lịch về cả đường biển và hàng không để du khách nước ngoài đi thăm khu vực Nam Đông Dương.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 9.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 10.

Tâm thức và lối sống sông biển rộng mở của Sài Gòn đã sinh thành từ người bản địa – thời kỳ Phù Nam. Các hiện vật khảo cổ học ở thành phố, đặc biệt tại Cần Giờ, cho thấy quanh thế kỷ thứ Nhất, vùng đất Sài Gòn cổ đại đã gắn bó sinh hoạt sông nước và hội tụ giao lưu nhiều nền văn hóa. Tiêu biểu là chiếc “cà ràng” (bếp bằng đất nung đặt trên thuyền ghe, gọi theo tiếng Khmer) và những chiếc khuyên tai hình hai đầu thú tinh xảo. 

Sách Gia định thành thông chí – viết trước 1820, cho biết dân Gia Định cứ 10 người thì có đến 9 người biết chèo thuyền và biết bơi. Trên sông rạch đầy thuyền ghe, đi lại cả đêm ngày. Chính quyền có quy định phương hướng lái thuyền sao cho trật tự. Người Gia Định còn biết nhiều thứ tiếng vì quen buôn bán với nhiều xứ sở lân bang.

Hơn vậy nữa, cái khí chất phóng khoáng – “tứ hải giai huynh đệ” của người Gia Định thể hiện qua việc khách đến nhà, bất kể thân hay sơ đều được mời trầu nước và ăn uống no say. Tính khí hào hiệp ấy thể hiện ngay trong “sự tích” Nhà Bè ở ngã ba sông – nơi để sẵn thức ăn, vật dụng “không đồng” cho khách qua lại. Nhiều người dân lấy thuyền là nhà, di chuyển bất cứ nơi nào mình thích. 

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 11.

Trên các con sông hay kênh rạch luôn có tiếng hò và lời ca vui khỏe. Học giả Trương Vĩnh Ký đã ghi được bài hò cho biết đầy đủ hơn 20 địa danh đường sông từ Sài Gòn đi các tỉnh. Trong đó thật hồn nhiên và thân thiện, có câu hát kết bè, kết bạn như sau: Kể từ rạch Cát, rạch Dơi/ Sài Gòn, Bến Nghé tựu nơi Nhà Bè/ Rủ nhau lĩnh thẻ chiêu đề/ Ghe nào bạn nấy ta hè kéo neo.

Khá nhiều địa danh ở thành phố đến nay vẫn còn là dấu tích liên quan sông nước như các tên gọi bắt đầu bằng chữ Bàu (ao), Bến, Bùng Binh (chỗ phình giữa sông rạch), Bưng (đất trũng đọng nước), Cầu, Cù lao (Việt hóa từ Pulau trong tiếng Chàm, Malay và Indo là hòn đảo nhỏ), Đầm, Giồng (dải đất cao nổi lên ven sông), Hóc (dòng nước nhỏ), Láng (nơi ngập nước), Lung (chỗ quanh năm có nước), Rạch, Suối, Ụ, Vàm… Trong khi đó về tín ngưỡng, trên đất Sài Gòn từ xưa đến nay có nhiều đền miếu thờ cá Ông, Phật Bà Nam Hải với nhiều lễ hội trọng thể.

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 12.

Biến đổi khí hậu, nước mặn xâm nhập sâu, triều cường, môi trường ô nhiễm đang là những vấn nạn với nhiều đô thị sông biển trên thế giới. Tại TP.HCM, Cần Giờ, Nhà Bè, quận 7, quận 8, quận 4 là những nơi phải đương đầu trước nhất. Tuy nhiên bên cạnh vấn nạn thiên nhiên, các vấn nạn về văn hóa – lịch sử cũng đã phát khởi nghiêm trọng. 

Không ít các kiến trúc và cảnh quan giá trị gắn bó sông nước đã “tan tác” hay bị bỏ phế, không để lại ngay cả một bia lưu niệm dấu tích. Đó là các khu pháo đài Rạch Cát, thủy xưởng Ba Son, cảng Khánh Hội, Tân Cảng, Lò Gốm Hưng Lợi, nhà đèn Chợ Quán, bến phà Thủ Thiêm, bến tàu Hải Quân ở Bến Bạch Đằng, cầu Ba Cẳng, cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường…

(kì 1) Sứ mệnh đô thành sông biển - Ảnh 13.

Hiện nhiều cơ quan đang soạn thảo các kế hoạch quy hoạch và phát triển các hành lang ven sông, cải tạo kênh rạch nội thành, xây dựng mới bán đảo Thủ Thiêm, Thanh Đa – Bình Quới và Cần Giờ từ nay đến năm 2030 và xa hơn. Theo chúng tôi, các khu vực ven sông biển, kênh rạch, hồ nước lớn phải kiên quyết được coi là không gian công cộng. 

Chính quyền nên ưu tiên dành đất các nơi này làm công viên sinh thái, công viên văn hóa – lịch sử và bảo tàng chứ không thể chỉ dành cho các khu dân cư cao cấp và công trình thương mại. Các kiến trúc cổ, các công trình tâm linh, các chợ bên sông, các bến tàu và đường thủy cần được giữ gìn tốt và sử dụng đa năng để hợp thành một hệ thống văn hóa – kinh tế bền vững.

Chúng ta không thể lãng phí những lớp “phù sa” văn hóa, bồi đắp xuyên suốt từ thuở Prei Nokor đến Tân Bình, Gia Định và Sài Gòn – TP.HCM hiện đại.





Source link

0 0 votes
Đánh giá bài viết
Subscribe
Notify of
guest
0 Góp ý
Inline Feedbacks
View all comments
0
chúng tôi trân trọng ý kiến của bạn!x
()
x
⚡ Chia Sẻ Đỉnh
Logo
Shopping cart